Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiện ích Windows. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiện ích Windows. Hiển thị tất cả bài đăng

Tăng tốc CPU

1,CPU Rocket 2004 tăng tốc bộ vi xử lý INTEL và AMD, tinh chỉnh bộ nhớ RAM

download: www.cpurocket.com/downloads/cpurocket.exe

2,Kiểm tra hoạt động của CPU với CPU cool 7.2.9

www.kagi.com

3,Phần mềm dự báo thời tiết các khu vực trên thế giới Weather Watcher 5.4b

www.singerscreations.com/ww54bsetup.exe

4, DK messenger Phần mềm chat Video (+voice+text): (peer to peer - ngang hàng)

www.dkmessenger.com (17,1 MB)

(c) sưu tầm bởi freewarez


Chuyễn Bộ Nhớ USB sang Bộ nhớ Ram

2008-05-23

Bạn đã từng biết đến tính năng ReadyBoost rất hiệu quả trên Windows Vista. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng Windows XP và cũng muốn sử dụng ReadyBoost thì bạn có thể nhờ đến sự giúp đỡ của eBoostr 1.1



Ngày nay, các phần mềm càng lúc càng có những yêu cầu cao về cấu hình của máy tính. Do đó, để tốc độ của máy tính không bị ảnh hưởng khi sử dụng các phần mềm đó, thì bắt buộc hệ thống của bạn phải có một dung lượng RAM kha khá.


Bạn đã từng biết đến tính năng ReadyBoost trên Windos Vista. Theo đó, Windows Vista có thể sử dụng dung lượng trống trên Flash USB để sử dụng như một bộ nhớ RAM, giúp tăng thêm tốc độ của hệ thống. Bạn có thể xem thêm về tính năng này của Windows Vista tại đây .


Tuy nhiên, trong trường hợp máy tính của bạn không sử dụng Windows Vista mà đang sử dụng Windows XP hoặc các phiên bản khác trước đó, thì tính năng này lại chưa được xuất hiện. Đó là quả thực là một điều đáng tiếc.


Trong quá trình hoạt động, hệ thống và các chương trình sẽ lưu những dữ liệu liên quan (các cache file) lên bộ nhớ RAM, để từ đó truy xuất vào các file này để sử dụng. Do đó, dung lượng bộ nhớ RAM càng lớn đồng nghĩa với việc bạn có thể sử dụng cùng lúc nhiều chương trình hơn và tốc độ của hệ thống sẽ nhanh hơn.


Ngày nay, khi mà dung lượng của các thiết bị lưu trữ dữ liệu như thẻ nhớ và Flash USB ngày càng tăng và giá thành ngày càng giảm, thì việc sở hữu một chiếc USB có dung lượng lớn là một việc đơn giản, việc này đơn giản hơn là bạn phải sắm cho mình những thanh RAM mới. Vậy nếu như bạn có 1 Flash USB với dung lượng lớn, nhưng máy tính lại không sử dụng Windows Vista thì cũng không thể nào khai thác chiếc USB đó vào vai trò một bộ nhớ ảo thông qua tính năng ReadyBoost. Vậy thì hãy thử sử dụng eBoostr 1.1
eBoost là một chương trình khá nhỏ gọn, sẽ sử dụng dung lượng trống trên chiếc USB của bạn và biến nó thành một bộ nhớ đệm để lưu trữ các cache file của chương trình và hệ thống. Do đó, USB lúc này sẽ có vai trò tương tự như một bộ nhớ RAM, giúp cho hệ thống được cải thiện tốc độ một cách đáng kể. Về cơ bản, thì eBoost hoạt động tương tự như tính năng ReadyBoost trên Windows Vista.


Đầu tiên, bạn download bản dùng thử của chương trình tại Tải Về tại đây .
Sau khi download và cài đặt chương trình thành công, bạn cần phải khởi động lại hệ thống để có thể sử dụng chương trình.


Nếu đây là lần đầu tiên sử dụng chương trình thì sau khi hệ thống hoàn thành quá trình khởi động, bạn sẽ nhận được 1 thông báo yêu cầu cắm USB vào máy tính. Sau khi cắm USB vào máy tính, bạn nhấn nút Yes trên hộp thoại để chương trình bắt đầu sử dụng USB làm bộ nhớ đệm, lưu trữ các cache file.
Sau khi bạn nhấn Yes ở hộp thoại đầu tiên, cửa sổ Add cache Device sẽ được hiện ra để bạn chọn thiết bị USB và dung lượng trống trên USB đó để sử dụng làm bộ nhớ đệm. Bạn có thể sử dụng hết toàn bộ dung lượng trống trên USB, hoặc tự thiết lập dung lượng dùng để sử dụng. Tốt nhất bạn nên sử dụng toàn bộ dung lượng trống của USB để sử dụng, điều này sẽ giúp cho hệ thống được cải thiện tốc độ nhiều hơn. (Dung lượng trống tối thiểu trên USB của bạn phải là 64MB)
Sau khi đã chọn thiết bị và dung lượng trống cần thiết để sử dụng trong việc lưu các cache file, bạn nhấn OK để chương trình bắt đầu kiểm tra dung lượng trống trên USB và phân phối các cache file của các chương trình hiện hành vào USB. Quá trình kiểm tra sẽ mất chừng vài giây đến một phút, tùy vào dung lượng trống bạn muốn chương trình sử dụng.
Sau khi quá trình kiểm tra kết thúc, chương trình sẽ yêu cầu bạn xác nhận lại 1 lần rằng có muốn sử dụng thiết bị của mình làm bộ nhớ đệm hay không. Bạn nhấn Yes để xác nhận với chương trình.
Bây giờ, bạn sẽ mất thêm một khoản thời gian nữa để eBoostr bắt đầu phân phối các cache file hiện hành đang chạy trên RAM ra USB của bạn, giúp giảm tải công việc cho RAM. Tại giao diện chính của chương trình, ở mục System Status sẽ hiển thị số % mà quá trình phân phối các tiến trình đã hoàn thành. Đến khi Syste Status chuyển thành Active, lúc đó USB của bạn đã hoàn toàn trở thành một bộ nhớ đệm và bộ nhớ RAM trên hệ thống đã được giảm tải dung lượng để chứa các cache file và có thể sử dụng để chứa các cache file của các chương trình mới. Điều này sẽ giúp tăng tốc độ của hệ thống một cách đáng kể và có thể kích hoạt được thêm nhiều chương trình hơn.
Trên đây là cách thức để bạn sử dụng chương trình trong lần đầu tiên sau khi cài đặt. Đối với những lần sử dụng sau, bạn chỉ cần cắm USB vào máy tính, kích hoạt tiện ích chương trình eBoost Control Panel của chương trình, sau đó tiến hành các bước như trên, để thiết lập thiết bị và dung lượng trống mà chương trình có thể sử dụng.
Trong trường hợp bạn không muốn sử dụng thiết bị của mình, hoặc muốn rút USB ra khỏi máy tính thì trước tiên bạn phải thoát khỏi chương trình này. Nếu không, bạn có thể bị mất dữ liệu hoặc 1 số chương trình sẽ bị ảnh hưởng. Để làm được điều này, tại giao diện chính của chương trình, trong danh sách các thiết bị, bạn click vào thiết bị muốn ngưng sử dụng và click vào nút Remove. Chương trình sẽ bắt đầu lại quá trình thu hồi lại các cache file của các tiến trình và đưa lại vào RAM hoặc đưa sang các thiết bị khác. Sau đó bạn có thể rút USB ra một cách an toàn theo cách thông thường.
Về cơ bản thì eBoostr hoạt động tương tự như tính năng ReadyBoost của Windows Vista, do đó chương trình chỉ tưong thích với các hệ điều hành từ Windows XP trở về sau, khi mà các hệ điều hành này chưa có tính năng ReadyBoost. Ngòai ra, chương trình chỉ hỗ trợ USB 2.0, do đó ngoài Flash USB, bạn có thể sử dụng các đầu đọc thẻ nhớ có hoặc các thiết bị lưu trữ nào có cổng giao tiếp USB 2.0 để sử dụng trong chương trình. Chương trình hỗ trợ bạn nối tối đa 4 thiết bị khác nhau, do đó bạn có thể thỏa sức tăng thêm bộ nhớ trên hệ thống của mình.


Tuy nhiên, bản dùng thử của chương trình lại giới hạn bạn được phép sử dụng mỗi lần trong 4 tiếng, sau 4 tiếng, bạn phải khởi động lại hệ thống thì mới được phép sử dụng. Để thu nhỏ chương trình xuống khay hệ thống, tại cửa sổ của giao diện chính, bạn phải click vào File và chọn Minimize to Tray. Điều này xem chừng là khá bất tiện và mất thời gian thay vì thiết kế một nút bấm để thu nhỏ chương trình.
Tóm lại, eBoostr là giải pháp khá thích hợp dành cho những máy tính có cấu hình yếu nhưng chủ nhân lại chưa đủ điều kiện để nâng cấp thiết bị cho nó. Hy vọng với eBoost, các bạn sẽ cải thiện được tốc độ trên máy tính của mình mà không cần phải tốn tiền sắm thêm những thanh RAM mới.
Nguyễn Ngọc Minh
Theo Vietbao.vn

Phan Mem Doi Kick Thuoc, Dung Luong o cung

2008-05-22

Partition Magic 805 và Boot magic 80


--------------------------------------------------------------------------------

Một ngày nào đó đột nhiên bạn chợt thấy ổ C bạn quá chật chội trong khi ổ D và E lại thừa thãi, quá rộng. Bạn muốn chỉnh lại ổ C cho lớn hơn, nhằm giúp windows chạy cho nhanh hơn. Chỉ có một phần mềm duy nhất thay đổi kích thước ổ đĩa mà không mất dữ liệu là Partion Magic 8.05

Bạn không thể thay đổi, chỉnh sữa gì ổ đĩa C bằng Fdisk hay Disk manager: như thế sẽ mất hết toàn bộ dữ liệu của bạn đấy sau khi format lại ổ đĩa

Với phiên bản 8.05 mới nhất này, Partion Magic buộc bạn phải activation mới cho phép xài được lâu bềàn nếu ngại việc activation bạn vẫn có thể dùng lại phiên bản cũ PM 801 vẫn tốt thôi.



PMagic 805 hoàn toàn lột xác và làm việc cực nhanh so với các phiên bản cũ 6.0 hay 7.0 trước đây. Chỉ trừ ổ đĩa C khởi động( primary active ) buộc phải ra DOS hay trước khi vào XP, 2000 để làm việc còn những ổ khác như D, E ( logical ) không khởi động, Partition Magic 8.05 giờ có thể làm việc ngay trong XP hay 2000 tốc độ nhanh thật đáng nể: Từ vài phút đến vài chục phút với 3,4 ổ đĩa( partition ) kích thước tổng cộng lên đến 40GB. Bạn nên tránh tối đa luôn chuyện làm việc PM8.05 trong DOS vì tốc độ quá chậm chạp và chờ đợi khá lâu, khá với trong windows. Tuy vậy trong DOS( Hiren CD 79 ) vẫn có giá trị vì đôi lúc bạn không vào được windows và buộc phải làm phần vùng lại ngoài DOS thôi.

Partition Magic 8.05 còn kèm theo một tiện ích thật tốt giúp bạn khởi động bằng một trong nhiều windows từ ổ C chung là pqboot làm trong DOS và pqbw.exe trong windows.: có thể bạn không cần phải dùng gì đến Boot Magic 8.05.

I)Chức năng chủ yếu của Partition Magic805 là phân vùng lại ổ đĩa ( partition ) được nói khá kỹ ở đây hướng dẫn các bạn nào còn chưa quen với phần mềm này:

Sau khi cài xong trong Windows, khởi động lại vào Partition magic 8.05 bạn sẽ thấy rõ ràng các ổ đĩa trong từng ổ cứng của bạn với từng tên đặt( label ). Trường hợp đặc biệt nhất máy bạn chỉ có 1 ổ đĩa duy nhất khởi động là C . Muốn tạo thêm 1,2 phân vùng khác để cài thêm windows khác hay dành lưu trữ file backup ư?

Nếu bạn chưa quen cách làm việc củạ PM805 , cứ chọn bên trái vào pick a task rồi chọn mục đầu là create a new partition . Theo dõi những gì hướng dẫn từng bước của nó cho bạn làm theo phong cách wizard, không gì gọi là quá khó với any new bie để có thêm các phân vùng mới logical là D, E...

Bạn có thể đặt tên phân vùng lại tuỳ mình cho dễ nhớ hơn( quan trọng là khi làm restore bằng ghost không sai ) bằng cách click nút phải vào từng ổ đĩa tạo ra và chọn lại label.

Bạn muốn làm rộng ổ C ra ư? Không có gì dễ hơn với PM 8.05? Nhớ là bạn phải thu nhỏ các ổ khác như E, D rồi mới làm rộng C ra được. Nếu ổ E đã nhỏ, không nên thay đổi làm gì , bạn cứ thu nhỏ kích thước ổ D phần bên trái để dành thêm cho ổ C.

Bạn click vào ổ D bằng cách chọn nút phải và chọn resize/ move: bạn sẽ thấy 2 phần màu sắc khác nhau ở ổ D : màu xanh đen là dữ liệu và phần xanh nhạt hơn là phần trống. Bạn có thể thay đổi kích thước ổ D từ bên phải hay trái: làm bên trái D để dành cho C, bạn click vào phần bên trái của D có mũi tên 2 bên, kéo qua phải. Kích thước ổ D sẽ nhỏ lại, phần giảm hiện rõ giúp bạn biết khi nào nên ngừng lại. Xong rồi, bạn qua ổ C click vào bên phải kéo rộng ra chiếm chỗ của ổ D mới vừa giảm. Như thế kích thước ổ C tăng thêm tuỳ ổ D giảm bớt bao nhiêu. Bạn nhấn nút apply ở góc dưới bên trái, là nó chui ra khỏi windows và trước khi vào lại WinXP, 2000 mới bắt đầu làm( với file xmnt2002 .exe ). Dù bạn có kéo sai hay quá đáng muốn chỉnh lại ấn nút undo là nó dừng lại, bỏ qua, bạn chỉ chọn lại cho thích hợp.

II )Chức năng thứ 2 quan trọng của PM 8.02 là giúp tạo ra thêm từ 2- 4 primary ở ổ C , nhưng chỉ có 1 là active: Mấy ổ khác trong C sẽ đặt tạm tên khác như K, L, sẽ được dấu đi để không làm ảnh hưởng đến một ổ khởi động duy nhất ( active ). Như thế, bạn có thể khởi động từng lúc một: Windows như XP pro,. XP home, Me và 98 hoặc phiên bản tiếng TQ, Pháp chứa cùng ở ổ C .
Muốn làm điều thú vị này, đầu tiên bạn phải chọn ổ C khá lớn đến 12GB-20GB để chia primary cho 2-3 windows. Bạn cứ giảm ổ D, E và dành hết cho C như cách trên đã nói phần đầu. Kế tiếp, bạn thu nhỏ C dành phần đầu là cho Xppro( P1 ) phần còn lại( P2 ) dành cho WinXP home, . Phần trống khi kéo bên phải của ổ C chưa có tên, bạn click vào nút phải nơi ấy chọn create tạo ra partition mới..

Đặt tên ngay cho nó để khỏi lộn khi làm ghost sao lưu. Đặt tên xong bạn cũng ở nút phải chọn vào advanced chọn ổ mới( P2 ) là primary, active thì phần C cũ( XP pro ) sẽ bị dấu đi( hidden ), chọn luôn format bằng FAT 32 và không nên chọn NTFS; Win98, DOS sẽ không nhận ra.

Nhớ là khi làm chuyện này bạn phải có thủ sẵn một ổ đĩa mềm tự khởi động, có gì còn cứu hộ được. Bạn bắt đầu cài từ đầu XP home vào PV2( phân vùng 2) bằng đĩa cài đặt CD

Khởi động lại, bạn sẽ có XP home làm việc thay vì XP pro nếu bạn chọn P2 là primary và active thay vì P1 (XP pro )

Nếu có sẵn các bản sao lưu ghost của XP home ( mà bạn đã cài trước đây vào C không dùng chung với XP pro được ), bạn cứ restore vào ổ đĩa primary ( P2 ) mới tạo ra. Tạo ra các primary mới P2,P3.. bạn cần nhớ rõ ( đặt tên riêng ) cho từng Windows để khi ghost lại đúng từng partition primary mới này, bạn còn phải chỉnh sữa lại file boot. ini trong C nó mới tự khởi động được.

Muốn chỉnh lại boot.ini, điều đầu tiên bạn phải clíck vào properties của file này xoá nút kiểm hidden và read only hay system mới thay đổi được. Thí dụ ở ổ D bạn có cài Win 2000 và ổ C bạn có primary là XP pro và XPhome ở P2. Ngoài XP pro ở ổ C thì boot.ini dành riêng cho XP home( P2 ) khởi động cùng với 2000 phải là :

[boot loader]
timeout=5

default=multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOW S
[operating systems]

multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOWS="Micro soft Windows XP Home Edition" /fastdetect

multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(4)\WINNT="Microso ft Windows 2000 Professional" /fastdetect

C:\="MS-DOS"

Bạn nhớ điều quan trọng là ổ nào mà bạn đã chọn là active, primary lúc khởi động nó sẽ là ổ C . Ở ổ C khởi động đấy, Partition Magic 8.05 dấu thật khéo: chỉ có một Windows lúc khởi động ở C như XP pro: bạn mới thấy được thôi.

Nhưng trái lại khi bạn đứng ở D ( Win2000 ), bạn sẽ thấy đủ hết các ổ primary, hidden và active: Rõ ràng là Partition Magic 805 không dấu gì được với Win2000; các ổ bị dấu đi, bạn sẽ thấy chúng sẽ mang tên tạm như I, K, L .. : Điều này cũng có ích lợi phần nào là cần chép thêm file hay xoá file nào ổ đĩa dấu(hidden ) vẫn làm được trong Win2000. Tương tự vậy, khi bạn xài Ghost 2003 trong DOS, bạn cũng thấy rõ mọi ổ đĩa primary dấu như Win 2000. Drive image 2002 và cả Ghost 2003 làm việc trong các windows cũng thế .
Do vậy bạn cần lưu ý điều tối quan trọng này để khi phục hồi ( restore ) lại bằng Ghost , Drive image cho thật đúng như lúc đầu, nếu sai chỗ bạn sẽ mất hết dữ liệu quí của bạn đấy.

Giờ với 2,3 primary có thêm trong C , bạn phải cần đến 2 file quan trọng của PM8.05 để lựa chọn phần primary nào sẽ khởi động( active ) : Đó là file pqboot.exe làm việc trong DOS, bạn cũng nên sửa lại đường dẫn PATH trong autoexec.bat nơi có pqboot lưu để sau này, bạn chỉ cần đánh pqboot ở C trong DOS là nó hiện ra giao diện giúp bạn khởi động lần tới là ở P1( XP pro ), hay P2( XP home )

Trong các windows khác như XP pro, XP home, bạn cần tạo 1 shortcut cho file pqbw.exe trong thư mục cài PM8.0 và bạn thích lần tới khởi động là Me ư? Cứ việc click vào file ấy trong windows nó cũng hiện ra giao diện để lựa chọn là 1,2, Nếu bạn chọn 2 ( XP home )là khởi động lần tới sẽ là Xphome chứ không thể là XP pro nữa. Nhưng file này còn cho phép bạn chọn ngoài restart now còn có restart later để dành đấy mà làm việc tiếp trong windows đến khi muốn khởi động lại cho lần tới thôi.

Có 2 file ấy giúp lựa chọn boot máy từng lúc mà bạn không cần gì cài Boot magic 8.0 cho chiếm hữu MBR( master boot record ) ảnh hưởng tới chức năng của Norton ghost 2003.. và nhiều thứ khác.
III) Các chức năng phụ của PM 8.05 không kém phần quan trọng : cũng click bằng nút phải vào từng ở đĩa, bạn sẽ chọn :

- Là delete partition xoá 1 ổ đĩa tất tiện khi cài thêm một windows mới nhanh khỏi phải xoá từng thư mục. Phải đặt tên lại ngay tránh cho các ổ đĩa khác bị đôn lên.

- Convert : thay đổi qua NTFS hay FAT thay vì FAT 32 .

- Merge hay Split: hoà lẫn vào partition khác hay phân ra thêm.

- Properties : cho biết đặc tính từng ổ đĩa hay phân vùng ( partition )

- Advanced: chọn vào ổ đĩa bị dấu hide sẽ có unhide: không dấu đi, hay set active nếu nó không active, primary hay logical.

- Browse: cho biết rõ các thư mục hiện có trong ổ đĩa ấy.
IV ) Ngoài các operation partition ở dưới bên trái phần trên có thêm pick a task : Phần này sẽ giúp cho các bạn chưa quen lắm với Partition Magic 8.05 , cứ chọn thoải mái, nó có thêm phần wizard( phù thuỷ ) cho từng task hướng dẫn thật kỹ từng bước để làm cho tốt khỏi sai:

Đó là các task create a new partition ( tạo ra thêm 1 ổ đĩa hay phân vùng mmới ), create a back up partition ( tạo ổ đĩa sao lưu ), install a new operation system ( cài đặt hệ điều hành mới ), resize a partition ( định lại kích thước một ổ đĩa ), redistribute a free space ( phân phối lại chỗ trống ), merge a partition( tích hợp vào 1 ổ đĩ a khác ) , copy a partition ( chép thêm 1 partition khác y chan ).

BOOT MAGIC 8.0 CÓ THẬT SỰ CẦN THIẾT ?

Boot Magic8.0 là phần mềm có sẵn trong Partition magic 8.02 cùng với Datakeeper 5.0, bạn muốn cài thêm nó hay không là tuỳ bạn thôi. Bài này bàn về các chức năng cùng cách hoạt động của Boot magic 8.0 để xem thực sự nó có thật đáng cho bạn cài đặt vào hay thôi đi.



I ) Cài đặt Boot Magic 8.0 : Việc cài đặt boot magic 8.0 thật dễ dàng không chút khó khăn không cần cả CD key nào cả: bạn chỉ cần cài nó trong một windows là đủ, dùng chung Boot Magic này cho các windows khác vẫn được .

Dù bạn có muốn cài thêm một lần nữa, nó cũng không cho phép làm, sẽ bắt bạn phải uninstall( gỡ bỏ ) cái cũ.
Bao giờ khi cài đặt nó cũng bắt bạn tạo một đĩa mềm rescue diskette ( đĩa cứu hộ ) để dành đó khi ổ cứng trục trặc, dùng đĩa này khởi động chọn lại hệ điều hành( do B.M đã chiếm Master boot record hay (MBR ).

Tuy vậy, bạn vẫn phải cần có một đĩa mềm khác tự khởi động để khi đĩa rescue diskette này có hư bad sector còn cứu hộ: Bạn nên tìm ra thư mục boot magic 8.0 đã cài vào,ø thay đổi cấu hình bằng một file bmcfg.exe.

Trong file này, bạn có thể xoá dấu kiểm enable boot magic là nó phục hồi lại MBR như cũ va nếu muốn uninstall( bạn xoá toàn bộ thư mục boot magic là xoá sạch ). Đôi lúc, bạn tìm không thấy trong Add Remove programs của windows đâu .

Khi nào bạn muốn sử dụng Boot magic lại cứ chọn lại chính nút kiểm này( nếu chưa xoá thư mục BM 80 ), khởi động máy lại nó sẽ chiếm hữu lần nữa MBR cho phép bạn chọn 1 trong 2-4 hệ điều hành nào là khởi động.

File này rất quan trọng, bạn có thể đứng ở bất cứ đâu( ổ D hay E ), trong DOS( bmcfg.exe ) trong windows khác( dùng file bmcfg32.exe ) vẫn thay đổi vẫn được cấu hình boot magic này: điều này sẽ áp dụng cho mọi windows mà bạn đang có.
Với file này bạn có thể chọnï add hay delete ( xoá đi hay thêm vào ) bất cứ hệ điều hành nào mà bạn muốn cho Boot magic 8.0 quản lý. Nhớ là phải chọn save/exit ở hàng cuối thì thay đổi cấu hình lần tới mới có hiệu lực.ø

II) Nếu bạn chỉ sử dụng có 1 hệ điều hành windows như Me hay XP ở C và 2000 ở D, liệu bạn có cần thiết phải dùng đến Boot Magic 8.0 không?: Phải nói thực là không. Vì sao vậy?
Khi bạn có 1 hệ điều hành XP ở ổ C, D là 2000 thì lúc khởi động, bạn vẫn có menu dual boot( khởi động kép ) giúp bạn dễ dàng chọn lựa giữa XP ở C và 2000 ở D. Bạn muốn có thêm DOS ở 2 hệ điều hành XP và 2000 ư? Bạn chỉ cần sửa lại file boot.ini ( cần xoá đặc tính hidden, read only, system ) file này và thêm một dòng ở cuối là C:\=”MS –DOS “.

Bạn có cài thêm boot magic 8.0 trong trường hợp này, nó sẽ chiếm hữu phần quan trọng MBR , dù bạn có chọn thế nào, nó vẫn không cho vào ngay windows đã lựa mà lại vào trước tiên là menu dual boot của windows và bạn phải chọn lần nữa, như vậy cài thêm BM 8.0 làm gì cho mệt?

III) Khi bạn có nhiều hệ điều hành khởi động đều từ ổ C như là XP pro, XP home hoặc WinMe: Lúc ấy bạn phải nhờ đến Partition magic 8.02 giấu đi giúp các hệ điều hành khác và chỉ cho phép 1 hệ điều hành( active) mình muốn khởi động. Như thế, đúng là Boot Magic 8.0 có thể cần thiết phần nào và nên cài vào thật sự.
Tạo ra thêm các partition primary ngoài ổ C như thế , bạn có thể cài thêm 1 hay 2 hệ điều hành mới XP home, hoặc WinMe vào các primary tạo ra . Trong trường hợp, bạn đã có các bản sao lưu ghost của XP home, Me trong CD trước đây muốn dùng lại vẫn được : cứ restore vào đúng các ổ primary active mới tạo ra. Nhưng muốn cho ổ mới này hoạt động và vào lại được các windows , banï nhớ là phải chỉnh sửa lại file boot .ini của XP home hay WinMe cho thật đúng với thứ tự mới các primary partition vừa tạo ra
Nhưng rõ ràng khi bạn chọn windows nào khởi động bằng menu riêng của Boot magic 8.0, nó cũng không cho vào ngay windows đó mà đầu tiên lại qua phần trung gian menu dual boot( khởi động kép ) của windows rồi tuỳ mình chọn thêm lần nữa windows ấy với thực sự vào được. Riêng Boot magic 8.0 càng không thể làm điều gì siêu đẳng như Partition magic 8.05 là giấu đi partition nào cả mà buộc phải có hỗ trợ làm việc của chính yếu là PM8.05..
Thực sự là PM 8.05 đã có sẵn 2 file quí giá rồi là pqboot làm việc trong DOS và pqbw.exe( trong windows ), bạn có thể cứ double click vào 1 trong 2 file ấy để khởi động lần tới windows khác như XP pro hay XPHome. Khởi động máy lại, bạn có ngay menu dual boot của windows để dùng( nhớ là phải xoá nút kiểm enable trong cấu hình của BM 8.0 khi không còn muốn xài BM 8.0 nữa ) .
Cuối cùng, phải nói thực sự một điều là Boot magic 8.0 không cài vào cũng không chết con giáp nào cả. Cài nó vào, chuyện phiền hà cho bạn nhất là nó chiếm hữu thực sự MBR ( master boot record ) làm ảnh hưởng đến nhiều nhất Norton ghost 2003, boot bằng đĩa mềm khởi động không thể hoạt động mặc dù vào lúc khởi động BM 8.0 có tiện lợi phần nào đôi chút.
Nhưng giờ này việc cài đặt hay gỡ bỏ đi ( uninstall ) Boot Magic 8.0 cũng rất dễ, hiện đại. Muốn remove boot magic: vào add remove program trong windows đã cài nếu có, hoặc ở windows khác: xoá nút kiểm enable trong boot configuration và xoá( delete )toàn bộ thư mục Boot Magic là xong . Nên tuỳ bạn quyết định có nên cài hay không?
Tôi lúc đầu quả là có thích B.M. 8.0 nhưng rồi cứ phải nhìn màn hình khởi động nó chiếm hữu thấy bực mình; nên gỡ bỏ hẳn và chỉ dùng 2 file có sẵn của PM 8.0 như đã nói trên để chọn lựa giúp mình lần tới hệ điều hành khác vào lúc khởi động .
DR Dương minh Hoàng

Windows XP SP3 liên tiếp... lỗi

Windows XP SP3 liên tiếp... lỗi In E-mail
Người đăng: Nguyen Ngoc MInh 21/05/2008

Từ khoá: Windows, SP3, lỗi

Gói phần mềm nâng cấp mới nhất dành cho hệ điều hành Windows XP tiếp tục gây rắc rối cho người dùng.

Nguồn: CNET

Theo một diễn đàn trực tuyến, sự cố mới nhất của Windows XP Service Pack 3 là xung đột với tính năng truy cập desktop từ xa của Windows Home Server.

Cụ thể, các thành viên của diễn đàn We Got Served (Anh) phàn nàn rằng SP3 đã cắt đứt đường truy cập từ máy tính của họ vào máy chủ.

Windows Home Server là phần mềm máy chủ quản lý mạng nội bộ và lưu trữ gia đình của Microsoft.

"Nguyên nhân của sự cố là do Windows XP SP3 đã tự động vô hiệu hóa tính năng điều khiển Terminal Services Active X một cách mặc định, để đảm bảo yêu cầu về bảo mật", một thành viên có nick ColinWH phân tích.

Anh này cũng đã đăng tải cách khắc phục sự cố nói trên, khi chỉ ra cách kích hoạt trở lại Terminal Services ActiveX thông qua trình duyệt IE.

Trục trặc với Windows Home Server không phải là sự cố đầu tiên mà Windows XP SP3 dính phải, dù gói phần mềm này mới chỉ phát hành được chưa đầy 1 tháng.

Dù theo lịch ban đầu, nó sẽ chính thức phát hành vào ngày 29/4, nhưng cuối cùng, Windows XP SP3 lại ra mắt chậm mất 1 tuần.

Lỗi chằng chịt

Microsoft lý giải cho sự chậm trễ này là vì SP3 không tương thích với một ứng dụng của chính Microsoft.

"SP3 gặp trục trặc với phần mềm quản lý hệ thống bán lẻ có tên Microsoft Dynamics RMS. Vì thế, chúng tôi cần thêm thời gian để chỉnh sửa", đại diện Microsoft cho biết.

Đến ngày 6/5, Windows XP SP3 cũng chính thức đến tay người dùng. Tuy nhiên, ngay lập tức những lời phàn nàn đã tới tấp bay về Tổng đài của Microsoft.

Các sự cố mà XP SP3 gặp phải rất đa dạng, từ khởi động... ngẫu hứng cho đến treo cứng toàn bộ hệ thống, bảng tin trên website Microsoft cho biết.

Nhiều máy tính cài chip AMD liên tục khởi động lại sau khi cài XP SP3 mà không có lý do, nhất là khi đấy là máy tính do HP sản xuất.

Một sự phiền toái nữa của SP3 là nó ngăn không cho người dùng "đi giật lùi" từ bản IE7 về dùng trở lại IE6. Bên cạnh đó, nó cũng xung đột với những hệ thống đang cài đặt bản beta của IE8.

Hiện Microsoft chưa đưa ra lời bình luận nào về lỗi mới nhất của Windows XP SP3.

(Theo Vietnamnet/PCWorld)

10 thủ thuật sửa lỗi khi không vào được Windows

10 thủ thuật sửa lỗi khi không vào được Windows In E-mail
Người đăng: Nguyen Ngoc Minh 20/05/2008 Căn đều Hai bên7)

Từ khoá: windows, error, sửa lỗi hệ thống

Người dùng khi không vào được windows thường chọn giải pháp là “ghost” lại hệ điều hành hoặc là cài đặt lại Windows. Nhưng thực ra có nhiều giải pháp đơn giản và hiệu quả hơn nhiều để giúp bạn khắc phục điều này. Bài viết xin nêu ra 10 việc đầu tiên cần làm khi không vào được Windows.

1/ Dùng đĩa boot để vào được Windows: đĩa boot thông dụng nhất chính là đĩa mềm cứu hộ, khi khởi động bằng đĩa mềm này, hệ thống sẽ không khởi động bằng phân vùng chứa hệ điều hành mà sử dụng đĩa mềm để kích hoạt Windows. Việc tạo đĩa boot có thể thực hiện tại bất cứ máy nào cài windows XP, cách thực hiện rất dễ dàng, cơ bản có 2 bước sau.

  • Bỏ đĩa mềm vào, format trong môi trường windows, bạn nhớ là phải giữ toàn bộ các thiết lập mắc định.
  • Chép các tập tin Boot.ini, NTLDR và ntdetect.com vào đĩa mềm. Lưu ý: các tập tin này đều có thuộc tính ẩn và hệ thống. Nếu máy tính có khả năng boot từ USB flash drive thì bạn cũng có thể tạo đĩa boot từ thiết bị này.

2/ Sử dụng Last Known Good Configuration: đây là một lựa chọn rất quen thuộc trong màn hình khắc phục sự cố của windows (Windows Advanced Options). Màn hình này thường xuất hiện sau mỗi lần máy tính gặp sự cố, nếu bạn không thấy nó thì hãy bấm giữ nút F8 trong lúc máy tính đang khởi động, sau quá trình POST và một tiếng “beep” thì màn hình này sẽ hiện ra. Bạn dùng phím mũi tên để di chuyển vệt sáng đến dòng Last Known Good Configuration, bấm Enter. Với lựa chọn này, windows sẽ khởi động với các thiết lập còn tốt trong thời gian gần nhất. Ngoài ra, bạn cũng có thể chọn Safe Mode để vào windows với các thiết lập mặc định.

3/ Sử dụng System Restore: có thể nói đây là một công cụ bị “lãng quên” của windows. Nó thực sự hữu dụng mỗi khi windows bạn trục trặc. Nếu bạn không tắt nó đó thì nó luôn chạy nền và tạo bản sao lưu mỗi 24 giờ và luôn sẵn sàng cho bạn sử dụng. Chỉ có một điều bất tiện là để sử dụng nó, bạn bắt buộc phải vào được windows. Cách thực hiện như sau.

  • Sau khi đã vào được windows, bạn vào menu Start > Programs > Accessories > System Tools > System Retore.
  • Trong cửa sổ hiện ra, bạn chọn Restore my computer to an earlier time, bấm Next cho đến khi quá trình khôi phục bắt đầu.

4/ Sử dụng Recovery Console: một công cụ được tích hợp sẵn trong đĩa cài đặt windows giúp bạn khắc phục sự cố. Đầu tiên, bạn chọn ưu tiên khởi động từ đĩa CD trong BIOS rồi cho đĩa cài đặt windows vào > bấm phím R để vào Recovery Console. Tiếp theo bạn sẽ thấy một danh sách các phân dùng cài đặt hệ điều hành (nếu máy tính có nhiều hệ điều hành), nhập số tương ứng với hệ điều hành cần sửa chữa > bấm OK, nếu tài khoản admin của bạn có đặt password thì bạn cũng phải nhập vào ngay sau đó.

5/ Sửa chữa file boot.ini: tập tin boot.ini là một tập tin rất quan trọng quyết định toàn bộ quá trình khởi động của Windows. Lỗi tập tin boot.ini thường xảy ra khi bạn cài đặt hệ điều hành mới nhưng boot.ini vẫn chưa nhận ra và không tìm được hệ điều hành cần thiết để khởi động. Lỗi ở tập tin boot.ini thường sẽ được windows thông báo “Invalid boot.ini file” khi khởi động. Nếu đã vào được windows, bạn nên chỉnh sửa tập tin boot.ini cho phù hợp với máy tính. Nhưng nếu bạn không rành thì tốt nhất bạn nên chép đè một tập tin từ máy tính khác cũng cài windows XP. Ngoài ra, nếu không vào được windows, bạn có thể dùng Recovery Console (Mục 4) để khắc phục. Sau khi đã vào được cửa sổ dòng lệnh của Recovery Console, bạn nhập vào lệnh Bootcfg /lệnh. Với /lệnh là một trong các kí tự sau:

  • /Add: quét toàn bộ ổ đĩa để tìm toàn bộ các hệ điều hành và cho phép bạn thêm bất cứ cái nào vào tập tin boot.ini
  • /Scan: quét toàn bộ các hệ điều hành trong máy tính
  • /List: liệt kê các phần tử của tập tin boot.ini
  • /Default: thiết lập hệ điều hành mặc định thành hệ điều hành khởi động chính.
  • /Rebuild: tạo lại file boot.ini hoàn toàn mới.

6/ Sửa chữa các boot sector bị hỏng trong phân vùng khởi động: boot sector là các rảnh nhỏ của một phân vùng trong ổ cứng, mang các thông tin về hệ thống tập tin của hệ điều hành (FAT, FAT32 hoặc NTFS). Khi tập tin này bị lỗi bạn sẽ không có cách nào vào windows được nữa, và bạn có thể khắc phục dễ dàng bằng Recorevy Console bằng cách gõ lệnh Fixboot [ổ đĩa] Với [ổ đĩa] là phân vùng bạn muốn sữa chữa lại boot sector, ví dụ với phân vùng C thì bạn gõ Fixboot C:.

7/ Sữa chữa Master Boot Record (MBR): MBR là cung đầu tiên trong một ổ cứng và chịu trách nhiệm về Để tiến hành sửa chữa, tại cửa sổ dòng lệnh của Recovery Console bạn nhập vào Fixmbr [device_name] rồi bấm Enter. Với [Device_name] là đường dẫn đến ổ cứng ví dụ Fixmbr \Device\HardDisk0 hay \Device\HardDisk1.

8/ Tắt chức năng Autimatic Restart: chức năng này sẽ tự động khởi động lại máy tính khi gặp lỗi nghiêm trọng của hệ điều hành. Biểu hiện là máy tính liên tục bị khởi động lại và không thể nào vào windows được. Để tắt chức năng này, đầu tiên bạn phải vào được Windows XP (vào bằng Safe Mod – để cập ở mục 2), bấm chuột phải vào My Computer > Properties > thẻ Advanced > tại phần Start Up and recovery bạn bấm nút Settings > trong cửa sổ hiện ra bỏ dấu chọn tại Automatically restart rồi bấm OK.

9/ Phục hồi lại máy tính: đây là cách hay được sử dụng nhất, chương trình được sử dụng nhiều nhất là Norton Ghost. Với cách này bạn nên tạo bản sao lưu máy tính định kì để tránh mất mát quá nhiều thiết lập, dữ liệu quan trọng. Bạn cũng nên nhớ việc lạm dụng sao lưu, phục hồi quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến tuổi thọ ổ cứng.

10/ Cài đặt lại hay nâng cấp hệ điều hành: chỉ khi nào toàn bộ 9 cách trên đều không thực hiện được bạn hãy làm tới việc này. Bạn nên cân nhắc kĩ trước lựa chọn nâng cấp (Upgrade) hay cài mới (Re-install), vì nâng cấp chưa hẳn giải quyết được các trục trặc, còn việc cài đặt mới thì bạn sẽ mất toàn bộ thiết lập và các phần mềm đã cài trước đó. Bạn có thể lựa chọn một trong hai việc này tại màn hình cài đặt.

PLMĐ.

Posts Recentes

Comentários Recentes

Arquivo

Comentários Recentes